Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Một phật giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo

một phật giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo


Thích Ca là một hoàng tử, ngày nọ nhìn thấy thế gian đầy đau khổ nên tâm trí rất ưu tư và bất an. Sau đó ông bỏ nhà ra đi tìm cách giải quyết mối ưu tư và bất an nầy.
Cứu cánh của Thích Ca rất giản dị và rõ ràng: Diệt Khổ.
Sau nhiều năm tu nghiệm, ông tìm ra một chân lý mà theo ông có thể giúp con người để diệt khổ.
Theo Thích Ca, muốn diệt Khổ thì phải 1/ nhận biết những loại Khổ trên đời, rồi 2/ nhận biết nguyên nhân của các loại Khổ nầy, rồi 3/ nhận biết rằng có thể đoạn diệt được sự Khổ, và 4/ nhận biết cách thức để đoạn diệt sự Khổ.
Diệt Khổ là chân lý mà Thích Ca tìm ra và truyền dạy. Chân lý nầy nằm trong 4 phương thức vừa kể trên và được gọi là Tứ Diệu Đế.
Chấm hết.
Thích Ca không chủ trương và không dạy gì về “Tây Phương Cực Lạc” hay “đầu thai” hay “luân hồi” cả.
Quan niệm “giác ngộ” và “giải thoát” của Thích Ca chỉ để nói về “nhận ra được bản chất của sự Khổ trên đời nầy” và “đoạn diệt được sự Khổ”.
Lúc sinh thời khi đệ tử thắc mắc về “kiếp sau” hay những vấn đề siêu nhiên khác, Thích Ca không trả lời. Theo ông, những điều nầy không cần thiết và chỉ làm Phật tử phân tâm trong việc suy nghiệm ra con đường “giác ngộ” và “giải thoát” vừa kể trên.
Thích Ca sống trong một xã hội của Ấn Độ hơn 2000 năm về trước lúc mà đại đa số đang chịu ảnh hưởng mạnh bởi Ấn Độ Giáo cũng như vô số các tôn giáo đầy mê tín dị đoan khác. Dân trí rất thấp. Tất cả những lời dạy của ông đều là truyền miệng.
Mấy trăm năm sau khi ông chết, nghĩa là không dưới khoảng 10 thế hệ truyền miệng với nhau, các đệ tử mới bắt đầu ghi chép lại các lời dạy của ông. Mấy trăm năm là một thời gian quá dài, nhất là trong hoàn cảnh xã hội thời đó, để các lời dạy nầy có thể được ghi chép lại một cách trung thực. Qua thời gian, các lời dạy của Thích Ca càng lúc càng bị ô nhiễm, pha trộn, chế biến, thêm thắc với đủ loại tư tưởng khác cũng như các chi tiết mê tín dị đoạn bởi chính các tăng sư khi soạn thảo kinh sách.
Mức độ ô nhiễm của mê tín dị đoan trong Phật Giáo có thể thấy được ở hầu hết mọi tầng lớp trong mọi tông phái.
Một thí dụ đơn giản, và điển hình, là chuyện “hoàng hậu nằm mơ thấy voi trắng 9 ngà húc vào người rồi thọ thai” hay “mới sinh ra bước 7 bước, trên mỗi bước hiện ra một hoa sen, tuyên bố ‘thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’”. Câu chuyện nầy được ghi chép trong vô số kinh sách Phật giáo không phải như là một truyền thuyết mà như là sự việc đã thật sự xảy ra. Hiện tượng tín đồ thần thánh hóa việc giáo chủ của họ được sinh ra (thí dụ như trinh nữ thọ thai hay giao cấu bởi thần tiên) nầy có thể thấy được trong hầu hết mọi tôn giáo khác, nhất là những tôn giáo bị khống chế nặng nề bởi mê tín dị đoan.
Chuyện địa ngục có quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa tra tấn hành hạ những kẻ ác độc khi còn sống ở thế gian là một thí dụ thịnh hành khác trong vô số kinh sách. Sự kiện Mục Kiền Liên hiếu thảo với mẹ được tuyên dương trong kinh sách song song với cuộc hành trình xuống địa ngục cứu mẹ như là một chuyện có thật giúp phần phổ biến và bồi đắp hình ảnh địa ngục kể trên thêm.
Có thể nói rằng chỉ trong thời gian gần đây mới bắt đầu có một số ít tài liệu, sách vở viết rằng những câu chuyện tương tự như trên chỉ là truyền thuyết chớ không phải có thật. Một số ít các sư tăng cũng bắt đầu giảng giải rằng những truyền thuyết loại trên chỉ có giá trị tượng trưng chớ không có giá trị lịch sử. Đây là một hiện tượng đáng kể đánh dấu bước ngoặc lớn trong quá trình tiến hóa của Phật Giáo. Hiện tượng nầy xảy ra trùng hợp với thời điểm mà kiến thức khoa học phổ thông và khả năng phân tích suy luận của con người trong xã hội nói chung đã tiến triển đến một mức độ mà một số hành giả không thể nào chấp nhận các chuyện hoang đường trên là có thật nữa.
Chuyện Thích Ca ngồi thiền định dưới gốc Bồ Đề 49 ngày trước khi giác ngộ là một thí dụ khác. Hầu hết tất cả kinh sách Phật trong hơn 2000 năm nay đều ghi chép lại việc Ma Vương hiện đến quyến rũ và hăm dọa Thích Ca. Phật tử được giảng dạy và tin rằng chuyện đó đã xảy ra thật. Có 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất, có thể là Thích Ca đã kể lại cho đệ tử nghe về những cám dỗ và sợ hãi đã xảy ra trong tâm tưởng ông trong 49 ngày ấy bằng một ngôn ngữ rất thực tế; tuy vậy khi các đệ tử soạn thảo kinh sách ra thì tự họ thêu dệt thêm vào các chi tiết huyền hoặc. Trường hợp thứ hai, cũng có thể là Thích Ca đã dùng những từ ngữ ẩn dụ đầy màu sắc thích hợp thời bấy giờ để làm cho những đệ tử ông có thể hiểu được ông muốn nói gì; và sau đó thì họ lại tin là những câu chuyện ẩn dụ màu sắc đó có thật.
Dù gì đi nữa thì các tác giả của vô số kinh sách chính thức của Phật Giáo đã ghi chép lại các chuyện trên như là sự thật vì chính họ cũng đã được giảng dạy và tin như vậy. Như đã nói, chỉ đến gần đây thì ý tưởng cho rằng các câu chuyện trên chỉ có tính cách “truyền thuyết” hay “có giá trị tượng trưng” (thay vì là “sự thật”) mới được phổ biến.
Một số Phật tử khi đọc đến đây chắc sẽ nghĩ rằng thời nay chỉ có kẻ dốt nát và mê tín dị đoan mới tin là các truyền thuyết trên có thật, và chắc sẽ không khỏi thầm hãnh diện rằng họ không thuộc vào dạng nầy. Những người đó có thể không nghĩ rằng đa số Phật tử hiện nay vẫn tin, hay ít nhất bán tín bán nghi, rằng các chuyện trên là “có thể có thật”. Mức độ “có thật” nầy cao hay thấp bao nhiêu tùy vào kiến thức phổ thông và khả năng phân tích, lý luận thực tế của từng người.
Những người đó cũng quên rằng có thể ngay chính họ cũng đang tin tưởng và thực hành một số điều mà Thích Ca là giáo chủ của họ khi sinh thời đã cương quyết và kiên trì tránh xa.  
Một sự kiện mà Thích Ca đã tránh đề cập đến khi còn sinh tiền là “điều gì sẽ xảy ra sau khi chết”. Tuy vậy, những đệ tử sau nầy của Thích Ca (các Tổ, các cao tăng sáng lập ra phái Đại Thừa hay Thiền Đông Độ chẳng hạn, và một số ít các tăng ni tự xưng là “Tiểu Thừa” cũng vậy) đã dần dần tự chế biến ra đủ loại khái niệm liên quan đến “thế giới bên kia” để đáp ứng nhu cầu tâm linh cho chính họ và cho các Phật tử khác. Một trong những khái niệm thịnh hành nhất dạng nầy trong Phật Giáo là “cõi Tây Phương Cực Lạc”.
Đại đa số Phật tử tin rằng nếu họ siêng năng tụng kinh, làm việc phước thì sau khi chết họ sẽ được vào Tây Phương Cực Lạc. Cái cứu cánh và chân lý “đoạn diệt Khổ” của Thích Ca đã bị hoán chuyển ra thành cứu cánh và chân lý “chinh phục sự Chết”. Bản năng sinh tồn tự nhiên của con người từ khai thiên lập địa luôn luôn thu hút người ta tìm đủ mọi cách để tự thuyết phục rằng họ không hoàn toàn bị hủy diệt sau khi chết. Điều nầy có thể thấy trong hầu như tất cả tôn giáo. Phật tử do đó đã thay đổi chủ đích “làm sao để đoạn diệt Khổ ở đời nầy” ra thành “làm sao được vào Tây Phương Cực Lạc sau khi chết” một cách dễ dàng và thoải mái.
Một điều cần thấy là khái niệm “thiện” liên quan mật thiết với khái niệm “Tây Phương Cực Lạc” trong Phật Giáo. Làm thiện sẽ được vào Tây Phương Cực Lạc, làm ác sẽ bị trở lại đầu thai trong vòng đau khổ của thế gian; hay tệ hơn nữa sẽ bị đày đọa ở những cõi địa ngục u tối. Khái niệm “thiện” được mọi người đều công nhận là “tốt”, là “nên làm”, là “nên xảy ra”. Khái niệm “Tây Phương Cực Lạc” do đó được vô tình củng cố thêm. Tâm thức của con người có khuynh hướng đồng hóa những sự việc liên quan hay tương tự với nhau. Vì công nhận “thiện” là “tốt”, người ta chấp nhận những lời dạy trong kinh sách về Tây Phương Cực Lạc một cách sẵn sàng và dễ dàng hơn.
Hai khái niệm thịnh hành khác trong Phật Giáo (nhưng cũng không nằm trong cứu cánh của Thích Ca) là “luân hồi” và “đầu thai”. Nếu chấp nhận sự việc Thích Ca lúc sinh tiền đã tránh không trả lời các câu hỏi về vấn đề siêu nhiên thì cũng cần chấp nhận rằng ông cũng đã không giảng dạy về quan niệm “luân hồi” và “đầu thai”.
Trong Tứ Diệu Đế không có chi tiết nào đề cập về các quan niệm nầy.
Khi đã chú trọng vào “làm sao để đến Tây Phương Cực Lạc sau khi chết” hay “kiếp sau sẽ là gì”, người ta sẽ bị phân tâm và không còn chú trọng đến “làm sao để đoạn diệt Khổ ở đời nầy” nữa. Đây là lý do chính tại sao Thích Ca không trả lời những câu hỏi về siêu nhiên của đệ tử khi ông còn sống. Lý do thứ hai có thể là vì trả lời xác nhận cũng như trả lời phủ nhận đều không hoàn toàn cả: xác nhận thế giới siêu nhiên là chỉ dựa vào sự mong mỏi và sự sợ hãi của tâm thức khi phản ứng theo bản năng sinh tồn; phủ nhận thế giới siêu nhiên là chỉ dựa trên nhận thức hạn hẹp và thiếu sót của ngũ quan.
Và cũng rất có thể là vì Thích Ca không biết câu trả lời vì ngôn ngữ nhân loại không đủ để diễn tả những gì tâm thức và ngũ quan họ cho đến bây giờ chưa thể cảm nhận được. Nhưng điều nầy cho thấy rằng ông ít nhất đã thành thật với chính mình, và với học trò của ông.
Tôi cho rằng ngay cả các quan niệm thịnh hành “nghiệp phước” và “nhân quả” cũng có thể không nằm trong những gì Thích Ca đã giảng dạy lúc sinh tiền.
Tuy trong Bát Chánh Đạo có dạy hành giả phải chú trọng vào “chánh nghiệp” nhưng vẫn có thể tranh luận rằng quan niệm “nghiệp” của Thích Ca chỉ có ý nghĩa thực tế chớ không phải huyền bí như Phật tử ngày nay nghĩ. “Thực tế” thí dụ như “ăn ở hiền lành với mọi người thì thường dễ tạo ra một môi trường sống hiền lành trong đó nhiều người cũng sẽ ăn ở hiền lành với mọi người khác chung quanh, kể cả với mình”. Có nghĩa là một người ăn ở hiền lành với người khác sẽ dễ được người khác ăn ở hiền lành trở lại với mình. Tuy vậy, quan niệm “nghiệp” thực tế nầy rất có thể đã bị biến đổi với thời gian trở thành siêu nhiên.
Và quan niệm “nhân quả” cũng có thể được giải thích tương tự.
Quan niệm “nghiệp phước” và “nhân quả” trong Phật Giáo hiện hành còn được biến cải để bao gồm thêm những nguyên nhân và hệ quả không liên quan đến nhau.
Thí dụ ở trên (“ăn ở hiền lành với người khác sẽ được người khác ăn ở hiền lành với mình”) là một niềm tin mà nguyên nhân và hệ quả có liên quan với nhau. Quan niệm “tụng kinh để được phước” là một niềm tin mà nguyên nhân không có gì liên quan với hệ quả. Tin rằng hành động “tụng kinh” dẫn đến kết quả “được chuyện tốt lành xảy ra cho họ trong tương lai” cũng tương đồng với tin rằng đọc một câu chú hay đốt một lá bùa gì đó sẽ làm thay đổi những gì xảy ra trong cuộc đời của mình hay của một người khác. Và cũng tương đồng với việc tin rằng những câu viết bâng quơ trong quẻ số ngày đầu năm có thể tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong suốt 12 tháng sau đó, cũng như vô số các mê tín dị đoan khác xảy ra thường trực trong các chùa chiềng hiện nay. Tương tự, Tứ Diệu Đế không hề nói gì, trực tiếp hay gián tiếp, về các vấn đề nầy.
Tại sao các quan niệm trình bày ở đây được xem là một dạng “Phật Giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo”?
Chữ “tín ngưỡng” ở đây cần hiểu là liên quan đến những gì được coi là thuộc về thế giới siêu hình, thiêng liêng, huyền bí, huyễn hoặc. Không nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai”, “luân hồi”, “nghiệp phước”, “nhân quả”, v.v. là không có tín ngưỡng.
Và khi đã không còn nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai” và “luân hồi” thì không còn gì cần phải mong đợi trong “kiếp sau” nữa. Một điều cần thấy là sự mong mỏi được đạt Niết Bàn hay đến Tây Phương Cực Lạc là một cái Tham vĩ đại án ngữ trước mắt của hành giả.
Cũng giống như một người đứng áp mặt sát vào một bức tường; bức tường sẽ trở thành quá lớn, chu vi của nó nằm hẳn bên ngoài phạm vi nhãn quan nên người đó sẽ không còn nhận thấy là có bức tường trước mặt họ nữa. Khi bước lùi lại ra xa khỏi bức tường thì nó không còn lớn đủ để che hết tầm nhìn của người đó nữa. Khi không còn nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai” và “Luân Hồi” thì tâm thức của hành giả sẽ chỉ chú trọng vào một mục tiêu duy nhất có thể đạt được trong đời sống hiện tại: Diệt Khổ.
Không còn lo nghĩ về “nhân quả”, “phước nghiệp” thì khi làm điều thiện sẽ không còn vì “để có phước” (và để “việc tốt lành sẽ xảy ra cho mình”, để “kiếp sau được đầu thai thành người sang giàu”, để “khi chết được vào Tây Phương Cực Lạc”, v.v.) nữa. Tất cả những điều trên cũng là một cái Tham lớn. Theo tôi thì đạo đức thật sự là đạo đức xuất phát từ trách nhiệm tự nguyện của tri thức cá nhân. Nếu bị hăm dọa (thí dụ: “làm điều ác sẽ tạo ra nghiệp chướng đời sau”) hay khuyến dụ (thí dụ: “làm việc thiện sẽ gặp việc thiện trả lại”) thì cái gọi là “đạo đức” đó chỉ là những trao đổi với mục tiêu vụ lợi và do đó vô ý nghĩa. Ngoài việc “vô ý nghĩa” ra, quan điểm trên còn tạo ra một ngả rẽ tách rời hành giả ra khỏi con đường Tứ Diệu Đế.
Nếu không còn các yếu tố thiêng liêng, huyền bí trên thì người ta không còn phải lo sợ vô cớ không cần thiết nữa. Niết Bàn hay Địa Ngục sẽ chỉ là những chuyện kể cho vui tai. Chỉ có đời sống hiện tại là có ý nghĩa, bắt đầu từ lúc nó bắt đầu và chấm dứt bằng sự Chết. Tự nhiên và hiển nhiên.
Nếu đã chấp nhận được sự Chết là một điều hiển nhiên thì hành giả sẽ không còn phải mong lo tìm kiếm cách để che đậy cái sự thật đó bằng những ảo ảnh vô tưởng nữa. Tuy không ai có thể chinh phục được sự Chết, nhưng nếu nhìn nhận sự Chết là một phần tự nhiên của đời sống thì rất có thể hành giả sẽ chinh phục, ít ra là phần nào, được sự sợ hãi về cái Chết.
Nếu đã chấp nhận, và hằng nhớ mỗi giây phút trong đời, rằng sự Chết sẽ xảy đến cho bất cứ ai bất cứ lúc nào thì tự nhiên mỗi hơi thở sẽ rất ngọt ngào, mỗi cử động bình thường của cơ thể sẽ là mỗi nỗi sung sướng, mỗi buổi sáng thức dậy sẽ đẹp tuyệt vời, mỗi ngày trôi qua trong đời là một kỳ quan đáng tận hưởng, và mỗi muộn phiền lo lắng trong cuộc sống hàng ngày tự dưng sẽ trở thành không còn đáng để muộn phiền lo lắng nữa. Và đó, theo tôi là một phần lớn của Cực Lạc.
Chữ “tôn giáo” ở đây cần được hiểu là “hệ thống tín ngưỡng bị chi phối và điều hành bởi các tổ chức của tu sĩ hay tăng lữ”.
“Phi tôn giáo” có nghĩa là không bị chi phối bởi tổ chức tăng lữ và do đó không bị ảnh hưởng bởi niềm tin sẵn có của họ. Mỗi tông phái có một lối tu riêng. Mỗi tông phái đều cho rằng lối tu của họ là hay nhất, mau lẹ nhất, “thật” nhất. Nhiều chùa, nhiều sư tăng pha trộn lý thuyết và thực hành của nhiều tông phái với nhau, kể cả những mê tín dị đoan thu gặt từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Mỗi “thầy” dạy và muốn đệ tử đi theo con đường của họ, và Phật tử rối mù làm theo như những con nộm vô thức. Nếu không còn bị chi phối bởi kinh sách và lời giảng giải của tổ chức tăng lữ hay Thầy nầy Tổ nọ, thì hành giả sẽ có dịp tự suy ngẫm để may ra có thể nhận thấy tại sao những con đường sẵn có mà họ đang đi theo không dẫn họ đến đâu cả.
Nói tóm lại, quan niệm “Phật Giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo” chú tâm vào cái cốt tủy của Phật pháp là Tứ Diệu Đế và gạt bỏ những chi tiết rườm rà không cần thiết khác. Đối với hành giả mang quan niệm nầy, triết lý Phật Giáo tự nhiên giản dị và dễ hiểu hơn nhiều.
Giản dị và dễ hiểu không có nghĩa là dễ thực hành.
Và chắc chắn không có nghĩa là ai cũng nhận thấy.

25 thg 4, 2017

LẦN ĐẦU ĐỌC SÁCH CỦA GS VŨ KHIÊU

Sách do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành
Ảnh: HTC
HOÀNG TUẤN CÔNG

Hôm qua đi nhà sách, tôi thấy cuốn “Hồ Chí Minh ngôi sao sáng mãi trên bầu trời Việt Nam” của GS Vũ Khiêu (NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2004). Được biết, GS Vũ Khiêu có cụm công trình được Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1, nhưng tôi chưa bao giờ có ý định tìm đọc (tôi cũng chưa từng đọc bất cứ cuốn sách nào của ông).

Với cuốn Hồ Chí Minh ngôi sao sáng mãi trên bầu trời Việt Nam”, dù chưa đọc, nhưng tôi đã mường tượng nội dung cuốn sách viết gì. Định bỏ qua, vì ngó vào những cuốn thế này chỉ tổ mất thời gian. Tuy nhiên, nhớ lại mới đây Thanh Hoá đã sử dụng toàn bộ nội dung hoành phi câu đối do GS Vũ Khiêu biên soạn, xào xáo (mà trước đây tôi có viết mấy bài phê phán) để đưa vào thờ trong Đền thờ bà mẹ Việt Nam và các anh hùng liệt sĩ Hàm Rồng, nên tự nhủ đọc lướt cuốn sách này xem thế nào.


Quả nhiên, nội dung sách toàn là những điều quen thuộc, đã được người ta phân tích, nói đi nói lại hàng chục năm trước, giờ đến GS Vũ Khiêu “xào lại”. Ví dụ “Phần I - Hồ Chí Minh qua cuộc hành trình tìm đường cứu nước”; “Phần II - Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức”; “Phần IV - Hồ Chí Minh với các vấn đề nghệ thuật và tôn giáo”; “Phần V - Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ”,v.v…

Duy có mục “Văn bia, hoành phi, câu đối, bài minh tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng liệt sĩ” (thuộc phần V) là mang dấu ấn riêng của GS Vũ Khiêu. Ví dụ, “bài minh” trên quả chuông ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn:

Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ
Dạt dào Đông Hải khí anh linh
Ba hồi  chiêu mộ rung tâm trí
Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình”.

Hình như ở đây có lỗi chế bản, “triêu mộ” in thành “chiêu mộ”. Tôi nghĩ thầm như vậy. Tuy nhiên, đọc thêm vài dòng nữa, thấy GS Vũ Khiêu giảng rõ ràng như sau: “Ba hồi chiêu mộ nói lên ba hồi chuông vào buổi sáng và buổi chiều (chiêu là buổi sáng, mộ là buổi chiều)”.

Nguyên văn trong sách của GS Vũ Khiêu
Ảnh: HTC

Đây là lời giảng sai hoàn toàn. Vì nói về hồi chuông sớm chiều, phải là “triêu mộ” [朝暮 – triêu = sớm; mộ = chiều]; còn “chiêu mộ” [招募 – chiêu = tuyển mộ; mộ = tìm kiếm, tập hợp] lại có nghĩa là tuyển mộ; như “chiêu” []trong “chiêu binh mãi mã”, “chiêu sinh”; “chiêu tập”; “mộ” [] trong “mộ lính”; “mộ dân”, v.v…

Như vậy, GS Vũ Khiêu đã viết sai chính tả, “triêu” thành “chiêu”; hoặc ông cứ ngỡ “chiêu”, mới có nghĩa là “buổi sáng”.[*]

Căn cứ chữ nghĩa của GS Vũ Khiêu, thì câu “Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí”, không thể có nghĩa là “ba hồi chuông vào buổi sáng và buổi chiều”, như ông giảng, mà buộc phải hiểu thành “Ba hồi 'tuyển mộ' rung tâm trí”, mới đúng(!). Các anh hùng liệt sĩ đã yên giấc ngàn thu, không rõ GS Vũ Khiêu còn “chiêu mộ” vào việc gì nữa?

Điều đáng chú ý là cách giảng sai của GS Vũ Khiêu giống hệt cái sai của GS Nguyễn Lân trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (cuốn sách do chính GS Vũ Khiêu viết lời giới thiệu và ca ngợi là “một tác phẩm có giá trị mà cả xã hội mong đợi”). GS Nguyễn Lân giảng như sau: “chiêu mộ • dt. (H. chiêu: sáng; mộ: buổi chiều) Sáng và chiều <> Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng (HXHương). • đgt. (H. chiêu: vời tới; mộ: cầu tìm) Tuyển người làm một việc gì <> Thực dân chiêu mộ người đi làm đồn điền cao-su”.

Có lẽ chính GS Vũ Khiêu đã tham khảo và đặt niềm tin tuyệt đối vào “cuốn từ điển sống” Nguyễn Lân (chữ của GS Vũ Khiêu dành cho tác giả “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”), khi cho rằng “chiêu mộ” vừa có nghĩa là “sáng và chiều”, vừa có nghĩa là “tuyển người làm một việc gì”(!)

Chuyện viết sai chính tả không hiếm trên sách báo. Tuy nhiên, một “bài minh” viết sai chính tả, dùng từ sai hoàn toàn như vậy mà vẫn được khắc trên chuông đồng, thì có lẽ là trường hợp hiếm có!

 Rồi “dĩ hư truyền hư”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, cứ thế cho in, báo chí cứ thế chép lại. Bài “Âm vang Trường Sơn” (và hầu hết các bài viết về nghĩa trang Trường Sơn) chép lại nguyên văn “Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí” của GS Vũ Khiêu, rồi tán: “Khi tôi vừa bước đến chân đồi nghĩa trang, tiếng chuông đã thỉnh lên như lời đánh thức hương hồn các liệt sĩ chào đón những người thân lên thăm. Đó là cuộc gặp gỡ của những người thân trở về thường ngày. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Giáo sư Vũ Khiêu được khắc lên thành chuông: “Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sỹ. Dạt dào Đông Hải khí anh linh. Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí. Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình”. Đúng là tiếng chuông ngân bát ngát Trường Sơn”. (Lương Sử - báo Công an nhân dân/8/8/2015).

Lật giở thêm mấy trang nữa, thấy mục “Hoành phi câu đối tại nhà thờ bà Hoàng Thị Loan”. GS Vũ Khiêu giới thiệu bức hoành bốn chữ: “Quốc mẫu uy nghi”, và chú thích như sau:

Về bức hoành phi QUỐC MẪU UY NGHI có nghĩa là: Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cao nhất của dân tộc ta. Cụ bà thân sinh ra Người xứng đáng là người mẹ chung của Tổ quốc Việt Nam, cho nên dùng chữ Quốc mẫu. Uy nghi là nói về hình dáng uy nghiêm và trang trọng của người”.

Một trang trong sách của GS Vũ Khiêu

Ta thử xem danh xưng “quốc mẫu” được các nhà biên soạn từ điển tiếng Việt giảng nghĩa là gì:

1. “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex): “quốc mẫu • 國母 d. [cũ, trtr] hoàng thái hậu [coi là mẹ của thần dân]”.
2. “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “quốc mẫu • dt. Mẹ vua (được xem như mẹ của toàn-thể dân-chúng một nước)”.
3. “Việt Nam tân tự điển” (Thanh Nghị): “quốc-mẫu • dt. (xưa) Mẹ vua”.
Từ điển Tàu (Hán điển) giảng như sau: quốc mẫu: cổ đại xưng thiên tử đích mẫu thân” [國母古代稱天子的母親], nghĩa là: “thời cổ đại gọi mẹ vua [thiên tử] là quốc mẫu”.

Như vậy, cứ theo nghĩa của từ điển Ta và từ điển Tàu giảng hai chữ “quốc mẫu”, thì GS Vũ Khiêu đã đẩy lùi lịch sử Việt Nam lại hàng trăm năm. Ông coi Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng khác nào thiên tử, nên gọi thân mẫu cụ Hồ là “quốc mẫu”. Chỉ khác là thời cổ đại, danh xưng “quốc mẫu” do thiên tử phong cho mẹ mình, còn nay tôn xưng này do chính GS Vũ Khiêu phong tặng; xưa kia “quốc mẫu” chỉ có nghĩa là “mẹ của thần dân”, thì nay GS Vũ Khiêu phong hẳn thành “mẹ chung của Tổ quốc Việt Nam”(!).

GS Vũ Khiêu chỉ giảng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cao nhất của dân tộc ta”, nhưng danh xưng “Cha già dân tộc” vẫn còn đó. Mà như thế, GS Vũ Khiêu gọi thân mẫu của cụ Hồ là “mẹ chung của Tổ quốc Việt Nam” sao đặng? Ấy là chưa nói đến chuyện, bà Hoàng Thị Loan được gọi là "quốc mẫu",  thì ai sẽ được GS phong là "quốc phụ"?

Lật thêm vài trang nữa thấy GS Vũ Khiêu giới thiệu đôi câu đối tại “đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An” như sau:

“Tới cổng nơi này, hoa cỏ như còn lưu dấu Bác;
Vào đền trong đó, khói hương gợi chút dãi lòng dân”.

Không biết “chút dãi lòng dân” ở đây là cái gì?
Lật thêm vài trang nữa…
Nhưng thôi!
Chữ nghĩa, sách vở của GS Vũ Khiêu là thế!

Tiếc rằng không ít người vẫn còn mê muội, sùng bái, xin bằng được “lời vàng ý ngọc” của GS Vũ Khiêu đem về khắc trên đá, khắc trên đồng, sơn son thếp vàng, treo cao khắp các đền đài trong nước, in ấn, phát hành bừa phứa mà không cần biết đúng sai thế nào, hay dở ra sao.

HTC/4/2017

[*] - Bạn đọc có thể kiểm chứng bằng cách tham khảo một số cuốn từ điển sau đây giảng về “triêu mộ” và “chiêu mộ” để thấy sự khác nhau của hai từ này như thế nào:
1.TRIÊU MỘ
-        “Việt Nam tự điển” (Hội khai trí): “triêu-mộ • Buổi sớm, buổi tối <>Tiếng chuông triêu mộ”.
-          “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “triêu mộ • tt. Sớm và chiều: Tiếng chuông triêu-mộ”.
2. CHIÊU MỘ:
- “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex): “chiêu mộ • 招募 đg. [cũ] tìm người ở khắp nơi và tập hợp lại để làm việc gì [nói khái quát] chiêu mộ binh sĩ ~ “Treo bảng văn chiêu mộ dân binh, Chứa lương thực đợi ngày cử sự.” (Hoàng Tăng Bí); chiêu tập, mộ”.
- “Tự điển Việt Nam phổ thông” (Đào Văn Tập): “chiêu mộ • Tuyển mộ (binh lính hay phu phen)”.

- “Từ điển tiếng Việt” (Lê Văn Đức): “chiêu mộ • đt. Mộ, tuyển người: Chiêu-mộ dân-quân, chiêu mộ dân phu”. 
=========================================
Nguồn: Trích từ Blog Tuấn Công Thư Phòng 

http://tuancongthuphong.blogspot.com/2017/04/lan-au-oc-sach-cua-gs-vu-khieu.html#more

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Phật A Di Đà và Phật Di Lặc

Trích đăng từ Nguyễn Nhân Trí - Tạp chí damau.org/archives/37353
Phật A Di Đà và Phật Di Lặc
Trong Phật Giáo Đại Thừa có 3 vị Phật lớn đó là 1/ Phật Thích Ca Mâu Ni, 2/ Phật A Di Đà và 3/ Phật Di Lặc.
Có nhiều bằng chứng cho thấy Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật có thật trong lịch sử. Trong khi đó, tất cả sự giới thiệu và bối cảnh dẫn đến sự xuất hiện của Phật A Di Đà và Phật Di Lặc trong các kinh sách đều cực kỳ mơ hồ.
Phật A Di Đà
Theo kinh sách Đại Thừa thì Phật A Di Đà sống qua hàng ngàn kiếp. Thí dụ như theo hòa thượng Thích Thiện Hoa biên soạn thì 4 trong hàng ngàn kiếp đó được diễn tả dưới đây.
1/ Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì "Đức Phật A Di Đà, kiếp trước là con của đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Ngài nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sanh nghe, nên thành Phật hiệu là A-di-đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc".
2/ Theo kinh Quán Phật Tam Muội Hải thì "Đời quá khứ Ngài làm Tỳ-kheo, chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông trắng giữa chặn mày của đức Phật Không Vương, nên được thọ ký Phật hiệu là A Di Đà ".
3/ Theo kinh Bi Hoa thì “Đời quá khứ hằng hà sa kiếp trước, A Di Đà là vua Chuyển Luân tên là Vô Trách Niệm. Một hôm vua nghe đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp tại vườn Diêm Phù ở gần bên thành … Khi đó đức Phật Bảo Tạng liền phóng hào quang sáng ngời, soi khắp cả thế giới của chư Phật mười phương, cho chúng hội đồng thấy … Vua đảnh lễ Phật, quỳ gối chắp tay phát lời đại nguyện … Do nhân duyên ấy, sau Ngài thành Phật hiệu là A Di Đà ở cõi Tây phương Cực Lạc”.
4/ Thích Ca kể rằng "Đời quá khứ lâu xa, cách hơn 10 ức kiếp, vua một nước tên là Diệu Hỷ có người con trai thứ hai là Kiều Thi Ca bỏ ngôi vinh quí theo Phật Thế Tự Tại xuất gia dưới pháp danh là Pháp Tạng. Pháp Tạng đứng trước Phật, phát 48 lời đại nguyện muốn độ khắp tất mười phương chúng sanh … Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả đất rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng ‘Pháp Tạng sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà’".
Một sự kiện có thể được nhận thấy rõ trong các tài liệu kinh sách kể trên là tính cách huyền bí thái quá của nhiều chi tiết chính yếu. Những bài biên soạn khác về Phật A Di Đà cũng đưa ra các câu chuyện huyền bí tương tự.
Ngay cả nếu chấp nhận rằng Phật A Di Đà đã có thật sự đầu thai qua hàng ngàn kiếp đi nữa thì địa danh, tên họ, gia tộc và kỷ niên của tất cả nhân vật trong chuyện đều được người viết kinh đề cập đến một cách đột ngột và tùy tiện. Các chi tiết trên đều không có bằng chứng lịch sử gì cũng như không thể nào kiểm chứng được.
Thí dụ như trong chuyện kể về kiếp thứ nhất ở trên thì “Đại Thông Trí Thắng Như Lai” là ai và gốc gác ở đâu? “Kiếp trước” là hồi nào, vào khoảng năm nào? Nếu chỉ vì “nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sanh nghe” mà được thành Phật thì như vậy chẳng phải trái ngược với lời dạy của Thích Ca Mâu Ni về cách thức đạt đến giác ngộ hay sao?
Trong chuyện kể về kiếp thứ hai ở trên cũng vậy, “phật Không Vương” là ai? Và có thật là chỉ nhờ “chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông trắng giữa chặn mày của đức Phật Không Vương” nên được thành Phật chăng?
Trong chuyện kể về kiếp thứ ba và thứ tư, tên tuổi và gốc gác của các nhân vật cũng được giới thiệu đến dưới tính cách mơ hồ tương tự. Thời điểm trong các chuyện nầy cũng rất đáng nghi ngờ (thí dụ như “quá khứ hằng hà sa kiếp trước” và “10 ức kiếp”).
Nói chung, cách trình bày và giới thiệu các dữ kiện về Phật A Di Đà trong các kinh sách cũng như các tình tiết như “hào quang sáng ngời, soi khắp cả thế giới của chư Phật mười phương, cho chúng hội đồng thấy” hay là “khắp cõi đất đều rung động, hoa báu mưa xuống trên mình người, và giữa hư không tự nhiên tiếng nhạc vang lừng” làm người đọc không khỏi liên tưởng đến các chuyện giả tưởng như Tề Thiên Đại Thánh hay Mục Kiền Liên Thanh Đề. Và giá trị của chúng có lẽ cũng không khác nhau mấy.
Những tài liệu và dữ kiện về Phật A Di Đà rất khó thuyết phục người khảo cứu rằng đây là một nhân vật lịch sử. Hơn nữa, chỉ có Phật Giáo Bắc Tông (hay “Đại Thừa”) thờ Phật A Di Đà trong khi Phật Giáo Nam Tông (hay “Tiểu Thừa”, hay “Nguyên Thủy”) không công nhận vị phật nầy.
Phật A Di Đà được xem là vị phật quan trọng nhất trong các môn phái Đại Thừa như Tịnh Độ Tông, Thiên Thai Tông, Mật Tông. Lấy Tịnh Độ Tông làm thí dụ chẳng hạn, đây là một trường phái được sáng lập bởi nhà sư Huệ Viễn vào thế kỷ thứ 4 ở Trung Hoa và từ đó lưu hành rộng rãi ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Mục tiêu chính của Tịnh Độ Tông là tu học để được tái sinh ở Tây Phương Cực Lạc, là nơi trụ trì của Phật A Di Đà. Người tu theo phái nầy được dạy rằng nếu họ tin tưởng nhiệt thành và trì niệm, quán tưởng đến Phật A Di Đà và Tây Phương Cực Lạc thì sẽ được cứu độ khỏi luân hồi.
Nguyên lý tu trên hoàn toàn khác biệt và trái ngược với triết lý nền tảng về “giác ngộ” và “giải thoát” được Thích Ca Mâu Ni giảng dạy.
Khi nhìn qua lịch sử hình thành và phát triển của Đại Thừa, kết luận hữu lý nhất là Phật A Di Đà đã được các tăng sư đem vào kinh sách dựa trên những truyền thuyết tưởng tượng của Ấn Độ Giáo. Những kinh sách nầy được sao đi chép lại qua bao nhiêu thế hệ không ai bao giờ kiểm chứng. Chùa chiềng theo kinh sách mà dựng tượng A Di Đà cũng không khác gì những tượng các Tổ, các Thánh Tăng, các La Hán, Tề Thiên Đại Thánh, Mục Kiền Liên, v.v. bất kể gốc gác lịch sử của các nhân vật trên.
Khuynh hướng của người Á Đông là thấy tượng thì bái lạy, thờ cúng. Cái quyến rũ lớn nhất về việc thờ cúng Phật A Di Đà là niềm tin “nếu thành tín quán tưởng và trì niệm về ngài thì sẽ được cứu độ về Tây Phương Cực Lạc”. Nguyên lý nầy mở ra cho tín đồ một lối đi đến giải thoát dễ dàng không cần phải dựa mấy vào sự tự lực tu học từ bản thân họ. Vì thế dần dần rồi Phật A Di Đà chiếm một vị thế ngang hàng với một nhân vật lịch sử trong Phật Giáo là Thích Ca Mâu Ni.
Phật Di Lặc
Phật Di Lặc cũng là một vị Phật của tông phái Đại Thừa. Phật Di Lặc được cho rằng trong tương lai sẽ thay thế Phật Thích Ca để hoằng pháp.
Di Lặc có nghĩa là "người có lòng từ bi”. Di Lặc là một vị Bồ Tát được tông phái Đại Thừa tin là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất. Bồ Tát Di-lặc cũng được thờ cúng rất rộng rãi trong Phật giáo Tây Tạng,
Tuy thế, tông phái Nguyên Thủy của Phật Giáo không công nhận Phật Di Lặc. Họ cho rằng Phật Di Lặc chỉ là một sản phẩm tưởng tượng được các tăng sư Đại Thừa soạn viết vào kinh Phật dựa trên một vị thần trong kinh Vệ Đà của Ấn Độ Giáo. Tông phái Tiểu Thừa cho rằng các tăng sư Đại Thừa cần có một vị phật trụ trì ở cõi Cực Lạc nên họ đã sáng tạo ra Phật Di Lặc.
Trong Phật Giáo Nguyên Thủy có 3 câu kệ:
“Quá khứ không truy tìm
Vị lai không ước vọng
Chỉ có hiện tại thôi”.
Ba câu kệ nầy cho thấy Phật Giáo Nguyên Thủy không nhìn nhận những chuyện quá khứ và vị lai, chỉ biết sống trong hiện tại. Vì thế họ không cần biết đến quá khứ vị lai mà chỉ chủ trương sống và làm mọi việc lành ngay trong hiện tại.
Tương tự như Phật A Di Đà, lai lịch của Phật Di Lặc cũng cực kỳ mơ hồ. Ngay trong các kinh sách của tông phái Đại Thừa cũng không có sự đồng nhất về tên tuổi và nguồn gốc của Phật Di Lặc. Những câu chuyện kể về Phật Di Lặc cũng chứa đựng đầy các chi tiết huyễn hoặc với pháp thuật thần thông tiêu biểu trong Ấn Độ Giáo và Lão Giáo.
Ngay những nghiên cứu gia về lịch sử Đại Thừa ngày nay cũng không dám quả quyết rằng họ có thể xác định được Di Lặc là một nhân vật lịch sử hay không. Trong các bài viết của họ chúng ta có thể thấy rất nhiều chữ như “tương truyền rằng” hay “truyền thuyết” đi liền với các chi tiết liên quan đến sự xuất hiện của Di Lặc.
Hãy đọc qua một đoạn trích dẫn từ bài viết sau đây về lai lịch của Di Lặc thì sẽ thấy sự bất đồng quan điểm giữa các sử gia như thế nào.
Trong Đại Tạng Kinh bản Hán dịch ghi Bồ-tát Di-lặc là tác giả của những bộ luận Du-già Sư-địa, Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Tụng, Biện Trung Biên Luận Tụng, Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh Luận.
Trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng ngoài các luận nói trên còn có ghi thêm Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Pháp Tánh Phân Biệt Luận và Đại Thừa Cứu Cánh Yếu Nghĩa Luận.
Tương truyền Di-lặc là thầy của ngài Vô Trước, sáng tạo ra lý Du-già Duy Thức và sau truyền trao cho Vô Trước. Theo Bà-tẩu-bàn-đậu Pháp Sư Truyện, Vô Trước từng lên cung trời Đâu Suất thỉnh vấn Bồ-tát Di-lặc về lý Không quán của Đại thừa, do đó mà xem Di-lặc cũng là thầy của Vô Trước, còn người đời sau thì cho rằng Ngài chính là Đức Phật Di-lặc trong tương lai.
Đối với các bộ luận đã nêu trên, thực tế có thể là do Vô Trước tóm thâu các học thuyết của tiên hiền mà tạm cho là của Di-lặc sáng tác.
Học giả Phật giáo nước Nga là E. Obermiller cho rằng truyền thuyết như ngài Long Thọ nhờ Bồ-tát Văn-thù khải phát mà trước tác các bộ luận, cũng vậy, ngài Vô Trước thì nhờ thần lực của Bồ-tát Di-lặc ở cung trời Đâu Suất mà tạo luận.
Học giả Nhật Bản là Sơn Khẩu Ích dựa vào thuyết này mà cho rằng người chú thích, luận thuyết các bộ luận đề tên ngài Di-lặc nói trên đều là do một mình ngài Vô Trước làm cả, và ngài Di-lặc chỉ là người khải phát linh cảm, và là một vị Phật Đương lai Nhất sanh bổ sứ.
Học giả E. Lamotte đồng ý luận thuyết này và bổ sung cho thuyết ấy được sáng tỏ. Ông cho rằng kinh điển Đại thừa thành lập sau thường mượn lời bậc Thánh để tăng thêm uy tín, cho nên nghi ngờ tính cách lịch sử của Di-lặc Luận sư là đúng.
Học giả Nhật Bản là Vũ Tỉnh Bá Thọ thì phản đối thuyết này, ông cho rằng Luận sư Di-lặc là nhân vật có thật trong lịch sử, đã sáng tạo giáo lý Du-già Đại thừa và Vô Trước chỉ là người viết lại các luận nói trên mà thôi.
Tại Trung Hoa, Bồ Tát Di-lặc cũng hay được trình bày với tướng mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quít xung quanh. Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di-lặc ở thế kỷ thứ 10.
Khái niệm “Phật Di Lặc” có liên hệ chặc chẽ với khái niệm “Hội Long Hoa”.
Hội Long Hoa, theo Phật Giáo Đại Thừa, là khi Phật Di Lặc xuất hiện thay thế Phật Thích Ca để hoằng pháp.
Có người so sánh hội Long Hoa với ngày Phán Xét của Thiên Chúa Giáo. Tín đồ Thiên Chúa Giáo mong chờ cho ngày Phán Xét xảy ra. Phật tử tông phái Đại Thừa phần đông cũng mong chờ cho hội Long Hoa xảy ra. Trong khi đó, Phật tử tông phái Tiểu Thừa xem hội Long Hoa chỉ là một sản phẩm tưởng tượng và không nhìn nhận ý niệm cũng như ý nghĩa của ngày nầy.
Kết luận về Phật A Di Đà và Phật Di Lặc
Những chi tiết cực kỳ mơ hồ kể trên về nguồn gốc, xuất xứ của Phật Di Lặc cũng như của Phật A Di Đà gây ra những câu hỏi không giải đáp được về thực chất của hai nhân vật nầy trong lịch sử Phật Giáo.
Ngoài ra những đặc thù và triết lý giải thoát kể về Di Lặc cũng như về A Di Đà đều hoàn toàn đối chọi với những đặc thù và triết lý giải thoát của Thích Ca Mâu Ni.
Nguyên tắc suy luận cơ bản nhất cho rằng “A” và “Không A” không thể hiện hữu cùng một lúc.
Điều nầy cho thấy nếu Phật tử công nhận sự hiện hữu của Phật Thích Ca thì khó có thể đồng thời chấp nhận sự hiện hữu của Phật Di Lặc và Phật A Di Đà.
-----------------
Nguyễn Nhân Trí